Cái cụm từ "vay tiêu dùng cá nhân" không còn xa lạ gì với nhiều người, đây là khoản cho vay tiền ngân hàng không thế chấp tài sản và là sản phẩm nổi trội được các ngân hàng sử dụng nhiều nhất hiện nay. Khoản cho vay tuy nhỏ lẻ nhưng đảm bảo hơn cho các nhà băng và người vay vốn về thủ tục cũng như phương án trả nợ khá dễ dàng.
chu-dong-vay-tieu-dung-ca-nhan

Cần chủ động trong vay tiêu dùng cá nhân để nắm bắt cơ hội

Nhưng để có được một khoản vay “chắc ăn” về khả năng chi trả người đi vay vốn cần chủ động trong kinh tế của mình mà đưa ra lựa chọn khoản vay nằm trong khả năng chi trả để linh hoạt hơn trong vấn đề tài chính.

Không vay quá sức

Đang có nhu cầu vay tín chấp một khoản lớn để mua sắm nhưng khách hàng cần “so đo thiệt hơn” về vấn đề chi tiêu hằng ngày (tiền ăn, tiền xăng, tiền học cho con, tiền mua sắm các vật dụng, tiền đi du lịch…), thêm vào đó, người đi vay còn phải chi trả cho khoản tiền lãi suất + một phần gốc khoản vay cho ngân hàng, hằng tháng. Sau khi tính toán chi li đâu vào đó rồi khách hàng mới nên đưa ra quyết định lựa chọn mức vay sao cho phù hợp với kinh tế của mình nhất.

Khả năng trả nợ dài hạn là vấn đề

Khi đã quyết định lựa chọn khoản vay vốn tín chấp ngân hàng thì khách hàng phải chi trả cho khoản vay với mức thời gian mình lựa chọn, nếu không chuẩn bị kỹ, người vay sẽ bị đặt vào tình thế bị động vì có khả năng lãi suất tăng theo thời gian. Do đó, bạn cần ước lượng kỹ khả năng thanh toán trước khi quyết định vay. Khách hàng nên xem xét các điều kiện về lãi suất vay tín chấp  và theo dõi biến động lãi suất thị trường để lường trước khoản tiền lớn, nợ gốc mình có thể thanh toán được suốt một thời gian dài hay không.

Phí thanh toán sớm

Đây là một điều đáng mừng nếu khách hàng có khả năng tất toán hợp đồng vay vốn trước hạn, đây là cách thức để giảm bớt gánh nặng chi phí lãi suất so với bảng thanh toán ban đầu khi ký kết hợp đồng tín dụng (do việc này dẫn đến ngân hàng mất một khoản lãi suất so với khi người vay duy trì khoản vay đến cuối hạn). Phí thanh toán trước hạn được tính theo tỉ lệ phần trăm (từ 1% đến 5%) trên tổng số dư nợ vào thời điểm thanh toán.